Tìm kiếm
Giỏ hàng
Bạn đang có 0
Sản phẩm trong giỏ hàng!
Sản Phẩm  
Liên hệ
an image
Công ty WYOPTIC.
Email: info@wyoptic.com
Phone: 090 466 5959
Fax: (+84) 3942 9534
(24/7): (+84) 90 466 5959
Bệnh cận thị
an image
Thế nào là mắt cận thị?
Bình thường ảnh của sự vật đi qua các hệ thống quang học của mắt rồi được hội tụ đúng trên võng mạc, giúp mắt nhìn rõ được cảnh vật. Do sự bất thường của hệ thống khúc xạ, hình ảnh của vật không được hội tụ nằm trên võng mạc mà bị hội tụ nằm trước võng mạc dẫn đến nhìn mờ.
Về cơ chế bệnh sinh, người ta chia cận thị ra làm 2 loại là cận thị khúc xạ và cận thị trục.
Cận thị khúc xạ: Xảy ra do lực khúc xạ của mắt quá lớn, (do lực khúc xạ của giác mạc hoặc thể thủy tinh quy định) trong khi chiều dài trục nhãn cầu bình thường. Loại này hay gặp trong cận thị học đường. Khi mắt phải nhìn gần với cường độ lớn và trong một thời gian dài, thể thủy tinh bị phồng lên làm tăng độ hội tụ của mắt. Lúc này muốn nhìn rõ, phải đưa hình ảnh của vật lại gần mắt. Những sự vật ở xa, mắt nhìn không rõ ở các mức độ khác nhau tùy theo mức độ cận thị. Cận thị học đường xuất hiện ở lứa tuổi đi học, xuất hiện càng sớm thì khả năng tiến triển càng nhanh và nặng. Cận thị học đường đơn thuần ít khi quá 6 đi ốp và thường không kèm theo giãn mỏng võng mạc và các nguy cơ khác của đáy mắt.
Cận thị trục: Xảy ra do trục nhãn cầu quá dài, trong khi lực khúc xạ của mắt bình thường. Trục nhãn cầu bị dài ra nguyên nhân là do cấu trúc của thành nhãn cầu bị dãn mỏng. Loại cận thị này thường có tính chất gia đình và thường xảy ra rất sớm ngay khi trẻ còn nhỏ tuổi, chưa đi học. Cận thị tiến triển rất nhanh, làm thị lực giảm sút nhiều, đồng thời làm võng mạc bị dãn mỏng dễ dẫn tới nguy cơ thoái hóa hắc võng mạc, rách võng mạc, thậm chí gây bong võng mạc dẫn tới mù lòa.
Các dấu hiệu của trẻ bị cận thị:
·         Nhìn vật gì cũng phải đưa sát vào mắt mới nhìn rõ: cúi sát mắt vào sách vở, đứng sát vào khi xem ti vi.
·         Hay nheo mắt để nhìn mọi vật, đặc biệt khi ánh sang yếu. Hoặc có những động tác bất thường liên tục như dụi mắt, nheo mắt, nghiêng đầu khi nhìn
·         Trẻ kêu mắt nhìn mờ hoặc nhức mắt
·         Kết quả học tập sút kém, không thích các hoạt động nhìn xa như đá bong, đá cầu mà thích thú hơn với việc đọc truyện, xem phim, chơi game…
·         Trẻ bị cận thị nặng có thể bị lác mắt kèm theo.
·         Trẻ bị cận thị cần phải được đưa đến khám tại các cơ sở chuyên khoa mắt để xác định chính xác mức độ cận thị, loại cận thị, phát hiện và điều trị các tổn thương ở đáy mắt nếu có.
Quy trình khám mới một trẻ cận thị:
Thăm hỏi về thời gian và mức độ các biểu hiện của cận thị.
Thử thị lực không kính và thị lực qua kính lỗ để xác định sơ bộ có mắc tật khúc xạ hay không
Đo khúc xạ trên hệ thống đo khúc xạ tự động với chức năng khử điều tiết. Đánh giá mức độ ổn định giữa các lần đo và sự phù hợp giữa kết quả đo được với mức độ giảm thị lực. Sự không phù hợp này hướng tới một dạng cận thị giả
Thử thị lực với kính.
Tra thuốc liệt điều tiết và đo lại khúc xạ khách quan: Skiascopy.
Xem xét sự tương quan giữa khúc xạ khách quan sau tra thuốc liệt điều tiết và kết quả thử thị lực trước khi tra liệt điều tiết. Nếu thấy phù hợp, bác sỹ sẽ cấp đơn kính cho bệnh nhân. Nếu có sự không phù hợp, bác sỹ sẽ hẹn bệnh nhân lần sau đến thử kính, khi hết tác dụng của thuốc liệt điều tiết.
Quy trình này hạn chế được tối đa thời gian để thực hiện đầy đủ một quy trình khám khúc xạ nhằm đưa ra một kết quả chính xác nhất.
Điều trị:
Đeo kính: Trẻ bị cận thị cần được đeo kính cận thị đúng số. Việc đeo kính giúp trẻ có được thị lực tốt nhất, giúp phát triển thị giác hai mắt một cách hoàn thiện và giúp trẻ hòa nhập vào thế giới năng động và nhiều màu sắc của chúng. Cần hiểu rằng 80% thông tin của cuộc sống là do chức năng thị giác mang lại. Đeo kính giúp mắt nhìn xa rõ, nhìn gần ở khoảng cách bình thường, giảm dần thói quen nhìn sát vào sách vở, do đó có tác dụng hạn chế được tốc độ tăng số của mắt. Đeo kính thường xuyên là tốt nhất, đặc biệt khi học hành, xem ti vi.
Kính cần được lắp đúng kỹ thuật, phù hợp với kích thước khuôn mặt, biết cách bảo quản tránh xây xước kính.
Chế độ vệ sinh thị giác: Cần bố trí hợp lý giữa thời gian học hành, xem sách báo với thời gian hoạt động ngoài trời. Cần tập thói quen nhìn xa, tập nhìn xa 15 – 30 phút / ngày. Giờ ra chơi nên chơi ở nơi thoáng rộng. Học hành 40 – 45 phút nên cho mắt nghỉ ngơi 5 - 10 phút. Thường xuyên mát xa quanh mắt để thư giãn điều tiết cho mắt.
Dinh dưỡng: Ăn uống đủ chất, đặc biệt là rau củ quả màu xanh thẫm hoặc màu đỏ. Ăn đủ thịt, cá, trứng, sữa. Có thể uống các loại thuốc bổ về mắt hoặc thực phẩm chức năng để tăng cường chức năng và chống thoái hóa cho các thành phần của mắt.